Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2010

Bản tin thị trường 12/03/2010



THỊ TRƯỜNG LONDON: Giá cà phê Robusta trên thị trường kỳ hạn London phiên vừa qua đóng cửa tăng nhẹ. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5 tăng 4 USD so với phiên trước đó, đứng ở mức 1.237 USD/tấn. Hợp đồng các tháng còn lại cũng đều tăng 4 USD, lần lượt đứng ở mức 1.271 và 1.304 USD/tấn.

THỊ TRƯỜNG NEW YORK: Giá cà phê Arabica trên thị trường kỳ hạn New York kết thúc phiên vừa qua cũng tăng nhẹ so với phiên trước đó. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5 đóng cửa ở mức 133,75 cent/lb, tăng 1,00 cent so với phiên trước, trong khi đó hợp đồng kỳ hạn tháng 7 đóng cửa ở mức 135,40 cent/lb, tăng 0,95 cent còn hợp đồng kỳ hạn tháng 9 tăng 0,90 cent đứng ở mức 137,00 cent/lb.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC: Giá cà phê nhân xô ngày 12/3/2010 tại các tỉnh Tây nguyên đã tăng 100 đ/kg so với hôm trước, nhưng vẫn chưa vượt qua được mức 23.000 đ/kg. Hiện nay vẫn chỉ đứng ở mức 22.900 đ/kg.

- BRAZIL: Lượng cà phê nhân xuất khẩu trong tháng 3 đạt 2.356 ngàn bao 60 kg


Theo Hội đồng các Nhà xuất khẩu Cà phê Nhân (Cecafe) cho biết lượng cà phê nhân xuất khẩu trong tháng 3 năm 2010 đạt 2.356 ngàn bao 60 kg, tăng nhẹ so với mức 2.351 ngàn bao cùng kỳ năm ngoái. So với cùng kỳ năm ngoái, cà phê nhân Arabica chiếm 2.320 ngàn bao, tăng hơn so với 2.317 ngàn bao; lượng cà phê robusta xuất khẩu tăng 7% lên mức 36.699 bao so với 34.338 bao; lượng cà phê hòa tan xuất khẩu tăng nhẹ lên mức 249.689 bao so với 249.159 bao, tổng lượng xuất khẩu cho cả tháng đạt 2.606 ngàn bao, tăng hơn so với 2.600 ngàn bao cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng 16% lên mức 413 triệu USD so với mức 348 triệu USD cùng kỳ năm ngoái.

BRAZIL: Lượng cà phê nhân xuất khẩu trong tháng 3 đạt 2.356 ngàn bao 60 kg (9/4/2010)




image

- BRAZIL: Lượng cà phê nhân xuất khẩu trong tháng 3 đạt 2.356 ngàn bao 60 kg

Theo Hội đồng các Nhà xuất khẩu Cà phê Nhân (Cecafe) cho biết lượng cà phê nhân xuất khẩu trong tháng 3 năm 2010 đạt 2.356 ngàn bao 60 kg, tăng nhẹ so với mức 2.351 ngàn bao cùng kỳ năm ngoái. So với cùng kỳ năm ngoái, cà phê nhân Arabica chiếm 2.320 ngàn bao, tăng hơn so với 2.317 ngàn bao; lượng cà phê robusta xuất khẩu tăng 7% lên mức 36.699 bao so với 34.338 bao; lượng cà phê hòa tan xuất khẩu tăng nhẹ lên mức 249.689 bao so với 249.159 bao, tổng lượng xuất khẩu cho cả tháng đạt 2.606 ngàn bao, tăng hơn so với 2.600 ngàn bao cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng 16% lên mức 413 triệu USD so với mức 348 triệu USD cùng kỳ năm ngoái.

Bản tin thị trường cà phê ngày 13/04/2010

THỊ TRƯỜNG NEW YORK: Giá cà phê Arabica kỳ hạn trên thị trường New York đã tăng lên do đồng đô la Mỹ yếu đi, và giá đã tăng trở lại so với đợt xuống giá trong vòng 3 tuần qua, hết phiên hôm thứ 6. Các hợp đồng khác ngoài hợp đồng tháng 5 đã nâng sản lượng lên và nhu cầu thu mua cà phê của các quỹ đầu cơ cũng khá lớn. Hợp đồng tháng 5 tăng 85 điểm, đóng cửa mức 133,55 cent/lb, và giao động trong khoảng 133,05- 134,20cent. Hợp đồng các tháng còn lại đóng cửa tăng 80 điểm,với tổng sản lượng giao dịch ước đạt 42.732 lô.

THỊ TRƯỜNG LONDON: Giá cà phê Robusta kỳ hạn trên thị trường London tăng lên do đồng đô la Mỹ yếu đi và do người nông dân Việt Nam vẫn muốn tạm trữ hàng. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5 tăng 13USD, đóng cửa ở mức 1.353 USD /tấn, giao động trong khoảng 1.353- 1.344USD. Hợp đồng các tháng còn lại cũng tăng lên trong khoảng 12-13USD với tổng sản lượng giao dịch đạt 5.699 lô.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC : Giá cà phê nhân xô ngày 13/4/2010 tại các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Nông đều tăng 100đ/kg ở mức 24.400đ/kg, chỉ có tỉnh Đắk Lắk tăng 200 đ/kg là 24.500đ/kg. Giá FOB tại thành phố Hồ Chí Minh cũng tăng lên ở mức 1.295 USD/tấn với mức trừ lùi là 60 USD. (Tỷ giá 1 USD = 19.050 VND)

Bản tin thị trường cà phê ngày 15/04/2010



THỊ TRƯỜNG NEW YORK: Giá cà phê Arabica kỳ hạn trên thị trường New York đã giảm nhẹ do thị trường này tập trung chủ yếu vào các hợp đồng kỳ hạn từ tháng 5 đến tháng 7. Cảm tính thị trường nói chung đã được xoa dịu bớt nhờ các nhà đầu cơ và lượng hàng bán ra ban đầu. Tuy nhiên các nhà rang xay cà phê có xu hướng giảm mức mua với lượng thấp. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5 giảm mất 35 điểm, đóng cửa mức 131,85 cent/lb, và giao động trong khoảng 131,70- 133,10cent. Hợp đồng các tháng còn lại giảm 30 điểm xuống còn 40 điểm với tổng sản lượng giao dịch ước đạt 40.585 lô.

.

THỊ TRƯỜNG LONDON: Giá cà phê Robusta kỳ hạn trên thị trường London tăng nhẹ do kế hoạch mua tạm trữ cà phê của Việt Nam đang thực hiện đã tác động lên thị trường này. Các hợp đồng mua bán cà phê Robusta đã tăng lên mặc dù lượng giao dịch trên thị trường New York giảm đi và tình hình giá cả các mặt hàng khác ngoài thị trường cũng đang giảm xuống. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5 tăng 2USD, đóng cửa ở mức 1.348 USD /tấn, giao động trong khoảng 1.358- 1.339USD. Hợp đồng các tháng còn lại cũng tăng lên trong khoảng 1-3USD với tổng sản lượng giao dịch đạt 12.099 lô.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC : Giá cà phê nhân xô ngày 15/4/2010 tại các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Nông giữ nguyên ở mức 24.400đ/kg, chỉ có tỉnh Đắk Lắk tăng 100 đ/kg là 24.500đ/kg. Giá FOB tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ ở mức 1.290 USD/tấn với mức trừ lùi là 60 USD. (Tỷ giá 1 USD = 19.050 VND)
TH

Báo cáo tóm tắt Hội nghị Cà phê Thế giới lần thứ 3 tại Guatemala từ ngày 26 - 28/2/2010 (10/4/2010)




image

Hội nghị cà phê thế giới lần thứ 3

Họp tại Guatemala trong 3 ngày 26, 27, 28 tháng 02 năm 2010

----------------

Sau 2 cuộc Hội nghị cà phê thế giới lần thứ nhất năm 2001 tại Luân đôn và lần thứ hai năm 2005 tại Brasil, Hội nghị cà phê thế giới lần thứ ba đã họp vào tháng 2 năm 2010 tại Guatemala.

Hội nghị lần này đã được trên 1.200 người từ hầu hết các quốc gia trên thế giới đăng ký tham dự.

Việt Nam tham dự hội nghị cà phê thế giới lần thứ 3 này có 3 đại biểu:

1. Tiến sĩ Bùi Bá Bổng- Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

2. Tiến sĩ Đặng Kim Sơn – Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược nông nghiệp và phát triển nông thôn

3. Ông Nguyễn Văn An – Tổng giám đốc Tập đoàn Thái Hòa, ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam

Trong buổi khai mạc, Hội nghị đã được nghe các bài diễn văn khai mạc sau:

- Diễn văn của Tổng thống Guatemala, ngài ÁLvaro Colom Caballeros

- Diễn văn của Tiến sĩ Nestor Osorio, giám đốc điều hành của Tổ chức cà phê quốc tế

- Diễn văn của ngài Supachai Panitchpakdi, tổng thư ký UNCTAD

- Diễn văn của ngài đại sứ Ali Mchuno, giám đốc điều hành quỹ chung cho hàng hóa (CFC)

- Diễn văn của ngài Micardo Villanueva, chủ tịch ban điều hành Hiệp hội cà phê Guatemala (Anacafé)

- Phát biểu của ngài Barettini, đại diện ủy ban châu Âu

Sau phần khai mạc Hội nghị đã nghe báo cáo với nội dung tập trung vào 3 phần sau:

1. Sự bền vững về kinh tế: bền vững của sản xuất

Trong phần này có các báo cáo của Brasil, Colombia, Tổ chức cà phê liên Châu Phi (IACO), Guatemala, và 2 bài phát biểu của đoàn Việt Nam đó là:

- Phát triển cà phê bền vững của Việt Nam của T.S.Bùi Bá Bổng

- Những vấn đề nổi bật của ngành cà phê Việt Nam của T.S.Đặng Kim Sơn.

2. Sự bền vững về kinh tế: kinh tế của nhu cầu.

Với nhiều báo cáo trong đó có:

Báo cáo của : Aleksandr Malchik – Đại biểu công ty cà phê Montana (Nga)

ReiJi Ohta– Hiệp hội cà phê toàn Nhật Bản (AJCA)

Ric Rhinehart – Hiệp hội cà phê đặc biệt Mỹ (SCAA)

Luis Fernando Sampo – Liên đoàn quốc gia những người trồng cà phê Colombia

3. Sự bền vững về môi trường:

Trong đó có báo cáo của Tiến sĩ Peter Baker – Viện nghiên cứu CABI

Báo cáo của Eduardo Delgado Assad. Embrape – Brasil với chủ đề: Sự biến đổi khí hậu và sản xuất cà phê, sự tổn hại và khả năng thích nghi…

4. Sự bền vững về xã hội: có các báo cáo như:

Diễn văn khai mạc phần này của Launtia Taylor- Liên đoàn cà phê của phụ nữ quốc tế (IWCA)

Bà Sunalini Menon – Phòng thí nghiệm tư nhân Ấn độ

Sau đó có các phát biểu của nhiều diễn giả khác như:

T.S.Krishna Rau – Cục cà phê Ấn độ

Ishak Kasule Lukenge – Cà phê Uganda…

Có thể nói nội dung Hội nghị rất phong phú và bổ ích

Bình ổn thị trường cà phê: Đâu là giải pháp?



Gần đây trên thị trường xuất hiện một số doanh nghiệp kinh doanh cà phê thua lỗ, vỡ nợ. Điều này có ảnh hưởng gì đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu cà phê của Việt Nam?

Việt Nam là nước có sản lượng cà phê xuất khẩu lớn thứ 2 thế giới, kim ngạch xuất khẩu cà phê có năm đạt 2 tỷ USD. Đây là ngành góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế cả nước nói chung, vùng Tây Nguyên nói riêng. Tuy nhiên những năm qua, ngành cà phê Việt Nam phát triển không ổn định và bền vững do gặp nhiều trở ngại, rủi ro.

Không giống như mặt hàng nông sản khác, thị trường cà phê thế giới trồi sụt có tính chu kỳ, khoảng 10 năm lặp lại 1 lần. Thị trường lên, giá có thể tới 60.000đ/kg nhưng khi thị trường xuống giá có thể chỉ còn 4.000 – 5.000đ/kg. Khi thị trường lên xuống, giá cà phê cách xa giá thật, nếu đánh giá thị trường không đúng, các doanh nghiệp kinh doanh sẽ bị thua lỗ nặng nề. Mỗi chu kỳ như vậy, số tiền mất mát có thể lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Riêng năm 2010, theo thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, từ đầu năm đến nay số tiền mất mát đã lên đến hàng ngàn tỷ đồng.

Tuy số doanh nghiệp kinh doanh cà phê thua lỗ chỉ chiếm một lượng nhỏ trong số doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của Việt Nam nhưng về mặt tâm lý nó có tác động rất lớn, ảnh hưởng không tốt đến các doanh nghiệp và địa phương có sản xuất, kinh doanh cà phê. Một số khách nước ngoài cũng lợi dụng tình trạng này để mua bán không nghiêm túc, thậm chí giữ tiền, phạt không theo quy định, gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam.

Nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ đâu, thưa ông?

Khi vào vụ, nguồn vốn của doanh nghiệp rất hạn chế nên không thể mua hết hàng của dân trong khi người dân cần có tiền để trang trải các khoản đầu tư đã đẩy hàng ra quá nhanh, tạo áp lực giá lên thị trường trong nước và thị trường Luân Đôn khiến giá giảm rất nhanh. Từ đầu vụ đến cuối tháng 2/2010, giá giảm trên 30%.

Lãi suất ngân hàng cao, thời hạn cho vay ngắn nên doanh nghiệp phải quay nhanh đồng vốn, không dám tạm trữ chờ đến khi có giá tốt. Điều này cũng góp phần làm tăng áp lực giảm giá trên thị trường.

Mặt khác, nhiều doanh nghiệp buôn bán trên thị trường kỳ hạn Luân Đôn theo giá trừ lùi (tức giá chưa chính thức, giá ảo). Do ít kinh nghiệm, lượng nhà xuất khẩu đông, tranh mua tranh bán, nên doanh nghiệp xuất khẩu bị khách hàng ép khoảng trừ lùi lớn. Thêm vào đó, thông tin trên sàn giao dịch không chính xác, doanh nghiệp nhận định thị trường không đúng, dẫn đến đầu cơ sai, kinh doanh thua lỗ.

Các nhà cung ứng cà phê xuất khẩu vốn đã nhỏ nhưng cũng tham gia mua bán trừ lùi trên thị trường kỳ hạn Luân Đôn. Do thiếu hiểu biết về chuyên môn, nhận định thị trường không chính xác nên nhiều người bị thua lỗ nặng, bán cả hàng người dân gửi trong kho. Khi giá cà phê tăng, người dân đến chốt giá để bán thì hàng không còn. Do mất mát lớn, nhiều nhà cung ứng cà phê xuất khẩu không có khả năng trả nợ, đã bỏ trốn, chiếm đoạt luôn hàng của dân và tiền ứng trước của doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó có không ít người có hành vi lừa đảo.

Theo ông, để bình ổn giá và tạo điều kiện phát triển cà phê một cách bền vững, cần thực hiện những biện pháp nào?

Biện pháp chống lại tình trạng này không phải quá khó. Mặt hàng lương thực trước đây cũng có tình trạng tương tự. Các nhà kinh doanh lương thực từng có năm bị thua lỗ nặng do biến động của thị trường, giá cả, do không thống nhất trong hành động. Trước tình hình đó, Chính phủ đã có nhiều giải pháp để bình ổn thị trường này, trong đó giao cho các doanh nghiệp lớn mua tạm trữ gạo ngắn hạn. Nhờ đó, hoạt động xuất khẩu gạo ổn định, các doanh nghiệp xuất khẩu có lãi lớn, người dân bán được lúa với giá cao, góp phần thúc đẩy sản xuất lương thực phát triển.

Ngành cà phê cũng cần học tập ngành lương thực, rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước, vai trò của Hiệp hội và các doanh nghiệp xuất khẩu lớn để bình ổn giá và tạo thị trường giá ổn định. Cần ngăn chặn và hạn chế tối đa bán việc hàng trừ lùi và chuyển sang bán hàng giao ngay. Nhà nước cần có lãi suất hợp lý cho doanh nghiệp xuất khẩu. Do lãi suất vay ngân hàng quá cao, doanh nghiệp mua vào phải bán ra thật nhanh, gây áp lực lớn lên thị trường bán hàng. Nếu có lãi suất thấp hơn thì các doanh nghiệp có thể kéo dài thời gian lưu hàng hóa trong kho, chờ khi giá tốt hơn để bán.

Mặt khác cần có sự sàng lọc rủi ro đối với khách hàng. Thị trường hiện nay đang sàng lọc các khách hàng rủi ro nhưng bản thân việc quản lý thông qua vai trò của Hiệp hội và sự giám sát của các ngân hàng cũng sẽ tạo ra được lực lượng các nhà kinh doanh có thực lực, ổn định và an tòan, giúp cho việc kinh doanh cà phê tốt hơn.

Bên cạnh đó cần có sự hợp tác của ngành cà phê Việt Nam với ngành cà phê các nước như Brazil, Indonesia…Việc này cần có sự phối hợp không chỉ vai trò của Hiệp hội mà còn có vai trò của Chính phủ như đối với mặt hàng gạo.

Được biết Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam có kiến nghị Chính phủ cho phép mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê. Đến nay, kiến nghị đó được xem xét như thế nào?

Sự quan tâm của Chính phủ đã tạo tín hiệu rất tốt đối với sự ổn định của thị trường, giá cà phê đã nhích lên trong tháng 3. Việc mua tạm trữ là mong mỏi của tất cả các doanh nghiệp và người dân trồng cà phê.

Hiệp hội đề xuất tạm trữ 200.000 tấn với mục đích bình ổn giá thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, xuất khẩu cà phê. Nếu được mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê thì chúng ta có 20% sản lượng xuất khẩu trong kho, như một cái van điều tiết khi giá xuống thì tạm trữ, khi giá lên thì bán. Chúng tôi cho rằng, việc tạm trữ trong thời gian 6 đến 9 tháng, thì khả năng ổn định thị trường là có cơ sở.

Việc tạm trữ nên thực hiện hằng năm và nên giao cho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, có uy tín và độ tin cậy cao thực hiện. Các doanh nghiệp sử dụng số tiền này để mua hàng của nông dân, hoặc cho người dân gửi hàng trong kho nhà cung ứng. Với cách làm đó, chúng ta vừa giúp cho doanh nghiệp kinh doanh có lãi, người dân bán được hàng với giá cao, có tiền để trang trải các khoản đầu tư, vừa giữ bình ổn giá trên thị trường. Thông qua đó tạo ra sự đoàn kết thống nhất cao trong điều hành của Hiệp hội và là cơ sở để các nước khác bắt tay với Việt Nam trong việc giữ giá cà phê ổn định trên thị trường toàn cầu.

Hiện nay lượng cà phê còn tồn trong nước khoảng 400.000 tấn. Nếu Chính phủ cho thực hiện sớm việc tạm trữ, sẽ góp phần bình ổn thị trường, nâng giá cà phê ở thị trường trong nước và xuất khẩu.