Hiển thị các bài đăng có nhãn tin-tuc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin-tuc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2010

Báo cáo tóm tắt Hội nghị Cà phê Thế giới lần thứ 3 tại Guatemala từ ngày 26 - 28/2/2010 (10/4/2010)




image

Hội nghị cà phê thế giới lần thứ 3

Họp tại Guatemala trong 3 ngày 26, 27, 28 tháng 02 năm 2010

----------------

Sau 2 cuộc Hội nghị cà phê thế giới lần thứ nhất năm 2001 tại Luân đôn và lần thứ hai năm 2005 tại Brasil, Hội nghị cà phê thế giới lần thứ ba đã họp vào tháng 2 năm 2010 tại Guatemala.

Hội nghị lần này đã được trên 1.200 người từ hầu hết các quốc gia trên thế giới đăng ký tham dự.

Việt Nam tham dự hội nghị cà phê thế giới lần thứ 3 này có 3 đại biểu:

1. Tiến sĩ Bùi Bá Bổng- Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

2. Tiến sĩ Đặng Kim Sơn – Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược nông nghiệp và phát triển nông thôn

3. Ông Nguyễn Văn An – Tổng giám đốc Tập đoàn Thái Hòa, ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam

Trong buổi khai mạc, Hội nghị đã được nghe các bài diễn văn khai mạc sau:

- Diễn văn của Tổng thống Guatemala, ngài ÁLvaro Colom Caballeros

- Diễn văn của Tiến sĩ Nestor Osorio, giám đốc điều hành của Tổ chức cà phê quốc tế

- Diễn văn của ngài Supachai Panitchpakdi, tổng thư ký UNCTAD

- Diễn văn của ngài đại sứ Ali Mchuno, giám đốc điều hành quỹ chung cho hàng hóa (CFC)

- Diễn văn của ngài Micardo Villanueva, chủ tịch ban điều hành Hiệp hội cà phê Guatemala (Anacafé)

- Phát biểu của ngài Barettini, đại diện ủy ban châu Âu

Sau phần khai mạc Hội nghị đã nghe báo cáo với nội dung tập trung vào 3 phần sau:

1. Sự bền vững về kinh tế: bền vững của sản xuất

Trong phần này có các báo cáo của Brasil, Colombia, Tổ chức cà phê liên Châu Phi (IACO), Guatemala, và 2 bài phát biểu của đoàn Việt Nam đó là:

- Phát triển cà phê bền vững của Việt Nam của T.S.Bùi Bá Bổng

- Những vấn đề nổi bật của ngành cà phê Việt Nam của T.S.Đặng Kim Sơn.

2. Sự bền vững về kinh tế: kinh tế của nhu cầu.

Với nhiều báo cáo trong đó có:

Báo cáo của : Aleksandr Malchik – Đại biểu công ty cà phê Montana (Nga)

ReiJi Ohta– Hiệp hội cà phê toàn Nhật Bản (AJCA)

Ric Rhinehart – Hiệp hội cà phê đặc biệt Mỹ (SCAA)

Luis Fernando Sampo – Liên đoàn quốc gia những người trồng cà phê Colombia

3. Sự bền vững về môi trường:

Trong đó có báo cáo của Tiến sĩ Peter Baker – Viện nghiên cứu CABI

Báo cáo của Eduardo Delgado Assad. Embrape – Brasil với chủ đề: Sự biến đổi khí hậu và sản xuất cà phê, sự tổn hại và khả năng thích nghi…

4. Sự bền vững về xã hội: có các báo cáo như:

Diễn văn khai mạc phần này của Launtia Taylor- Liên đoàn cà phê của phụ nữ quốc tế (IWCA)

Bà Sunalini Menon – Phòng thí nghiệm tư nhân Ấn độ

Sau đó có các phát biểu của nhiều diễn giả khác như:

T.S.Krishna Rau – Cục cà phê Ấn độ

Ishak Kasule Lukenge – Cà phê Uganda…

Có thể nói nội dung Hội nghị rất phong phú và bổ ích

Bình ổn thị trường cà phê: Đâu là giải pháp?



Gần đây trên thị trường xuất hiện một số doanh nghiệp kinh doanh cà phê thua lỗ, vỡ nợ. Điều này có ảnh hưởng gì đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu cà phê của Việt Nam?

Việt Nam là nước có sản lượng cà phê xuất khẩu lớn thứ 2 thế giới, kim ngạch xuất khẩu cà phê có năm đạt 2 tỷ USD. Đây là ngành góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế cả nước nói chung, vùng Tây Nguyên nói riêng. Tuy nhiên những năm qua, ngành cà phê Việt Nam phát triển không ổn định và bền vững do gặp nhiều trở ngại, rủi ro.

Không giống như mặt hàng nông sản khác, thị trường cà phê thế giới trồi sụt có tính chu kỳ, khoảng 10 năm lặp lại 1 lần. Thị trường lên, giá có thể tới 60.000đ/kg nhưng khi thị trường xuống giá có thể chỉ còn 4.000 – 5.000đ/kg. Khi thị trường lên xuống, giá cà phê cách xa giá thật, nếu đánh giá thị trường không đúng, các doanh nghiệp kinh doanh sẽ bị thua lỗ nặng nề. Mỗi chu kỳ như vậy, số tiền mất mát có thể lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Riêng năm 2010, theo thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, từ đầu năm đến nay số tiền mất mát đã lên đến hàng ngàn tỷ đồng.

Tuy số doanh nghiệp kinh doanh cà phê thua lỗ chỉ chiếm một lượng nhỏ trong số doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của Việt Nam nhưng về mặt tâm lý nó có tác động rất lớn, ảnh hưởng không tốt đến các doanh nghiệp và địa phương có sản xuất, kinh doanh cà phê. Một số khách nước ngoài cũng lợi dụng tình trạng này để mua bán không nghiêm túc, thậm chí giữ tiền, phạt không theo quy định, gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam.

Nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ đâu, thưa ông?

Khi vào vụ, nguồn vốn của doanh nghiệp rất hạn chế nên không thể mua hết hàng của dân trong khi người dân cần có tiền để trang trải các khoản đầu tư đã đẩy hàng ra quá nhanh, tạo áp lực giá lên thị trường trong nước và thị trường Luân Đôn khiến giá giảm rất nhanh. Từ đầu vụ đến cuối tháng 2/2010, giá giảm trên 30%.

Lãi suất ngân hàng cao, thời hạn cho vay ngắn nên doanh nghiệp phải quay nhanh đồng vốn, không dám tạm trữ chờ đến khi có giá tốt. Điều này cũng góp phần làm tăng áp lực giảm giá trên thị trường.

Mặt khác, nhiều doanh nghiệp buôn bán trên thị trường kỳ hạn Luân Đôn theo giá trừ lùi (tức giá chưa chính thức, giá ảo). Do ít kinh nghiệm, lượng nhà xuất khẩu đông, tranh mua tranh bán, nên doanh nghiệp xuất khẩu bị khách hàng ép khoảng trừ lùi lớn. Thêm vào đó, thông tin trên sàn giao dịch không chính xác, doanh nghiệp nhận định thị trường không đúng, dẫn đến đầu cơ sai, kinh doanh thua lỗ.

Các nhà cung ứng cà phê xuất khẩu vốn đã nhỏ nhưng cũng tham gia mua bán trừ lùi trên thị trường kỳ hạn Luân Đôn. Do thiếu hiểu biết về chuyên môn, nhận định thị trường không chính xác nên nhiều người bị thua lỗ nặng, bán cả hàng người dân gửi trong kho. Khi giá cà phê tăng, người dân đến chốt giá để bán thì hàng không còn. Do mất mát lớn, nhiều nhà cung ứng cà phê xuất khẩu không có khả năng trả nợ, đã bỏ trốn, chiếm đoạt luôn hàng của dân và tiền ứng trước của doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó có không ít người có hành vi lừa đảo.

Theo ông, để bình ổn giá và tạo điều kiện phát triển cà phê một cách bền vững, cần thực hiện những biện pháp nào?

Biện pháp chống lại tình trạng này không phải quá khó. Mặt hàng lương thực trước đây cũng có tình trạng tương tự. Các nhà kinh doanh lương thực từng có năm bị thua lỗ nặng do biến động của thị trường, giá cả, do không thống nhất trong hành động. Trước tình hình đó, Chính phủ đã có nhiều giải pháp để bình ổn thị trường này, trong đó giao cho các doanh nghiệp lớn mua tạm trữ gạo ngắn hạn. Nhờ đó, hoạt động xuất khẩu gạo ổn định, các doanh nghiệp xuất khẩu có lãi lớn, người dân bán được lúa với giá cao, góp phần thúc đẩy sản xuất lương thực phát triển.

Ngành cà phê cũng cần học tập ngành lương thực, rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước, vai trò của Hiệp hội và các doanh nghiệp xuất khẩu lớn để bình ổn giá và tạo thị trường giá ổn định. Cần ngăn chặn và hạn chế tối đa bán việc hàng trừ lùi và chuyển sang bán hàng giao ngay. Nhà nước cần có lãi suất hợp lý cho doanh nghiệp xuất khẩu. Do lãi suất vay ngân hàng quá cao, doanh nghiệp mua vào phải bán ra thật nhanh, gây áp lực lớn lên thị trường bán hàng. Nếu có lãi suất thấp hơn thì các doanh nghiệp có thể kéo dài thời gian lưu hàng hóa trong kho, chờ khi giá tốt hơn để bán.

Mặt khác cần có sự sàng lọc rủi ro đối với khách hàng. Thị trường hiện nay đang sàng lọc các khách hàng rủi ro nhưng bản thân việc quản lý thông qua vai trò của Hiệp hội và sự giám sát của các ngân hàng cũng sẽ tạo ra được lực lượng các nhà kinh doanh có thực lực, ổn định và an tòan, giúp cho việc kinh doanh cà phê tốt hơn.

Bên cạnh đó cần có sự hợp tác của ngành cà phê Việt Nam với ngành cà phê các nước như Brazil, Indonesia…Việc này cần có sự phối hợp không chỉ vai trò của Hiệp hội mà còn có vai trò của Chính phủ như đối với mặt hàng gạo.

Được biết Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam có kiến nghị Chính phủ cho phép mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê. Đến nay, kiến nghị đó được xem xét như thế nào?

Sự quan tâm của Chính phủ đã tạo tín hiệu rất tốt đối với sự ổn định của thị trường, giá cà phê đã nhích lên trong tháng 3. Việc mua tạm trữ là mong mỏi của tất cả các doanh nghiệp và người dân trồng cà phê.

Hiệp hội đề xuất tạm trữ 200.000 tấn với mục đích bình ổn giá thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, xuất khẩu cà phê. Nếu được mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê thì chúng ta có 20% sản lượng xuất khẩu trong kho, như một cái van điều tiết khi giá xuống thì tạm trữ, khi giá lên thì bán. Chúng tôi cho rằng, việc tạm trữ trong thời gian 6 đến 9 tháng, thì khả năng ổn định thị trường là có cơ sở.

Việc tạm trữ nên thực hiện hằng năm và nên giao cho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, có uy tín và độ tin cậy cao thực hiện. Các doanh nghiệp sử dụng số tiền này để mua hàng của nông dân, hoặc cho người dân gửi hàng trong kho nhà cung ứng. Với cách làm đó, chúng ta vừa giúp cho doanh nghiệp kinh doanh có lãi, người dân bán được hàng với giá cao, có tiền để trang trải các khoản đầu tư, vừa giữ bình ổn giá trên thị trường. Thông qua đó tạo ra sự đoàn kết thống nhất cao trong điều hành của Hiệp hội và là cơ sở để các nước khác bắt tay với Việt Nam trong việc giữ giá cà phê ổn định trên thị trường toàn cầu.

Hiện nay lượng cà phê còn tồn trong nước khoảng 400.000 tấn. Nếu Chính phủ cho thực hiện sớm việc tạm trữ, sẽ góp phần bình ổn thị trường, nâng giá cà phê ở thị trường trong nước và xuất khẩu.

Chính thức hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp mua tạm trữ cà phê



200 nghìn tấn cà phê mua tạm trữ trong thời gian từ 15/4 – 14/7/2010 sẽ được hỗ trợ lãi suất trong 6 tháng.


Quyết định số 481/QĐ – TTg vừa được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ký đã thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ mua tạm trữ cà phê niên vụ 2009-2010. Theo đó, Nhà nước thực hiện hỗ trợ lãi suất với mức 6%/năm đối với 200 nghìn tấn cà phê mua tạm trữ. Thời gian được hỗ trợ lãi suất tối đa là 6 tháng, tính từ 15/4 đến 15/10.

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì cùng Bộ Công Thương, UBND các tỉnh có sản lượng cà phê lớn và Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vicofa) xác định cụ thể lượng cà phê cần mua tạm trữ, chỉ định các doanh nghiệp thực hiện mua. Đồng thời giám sát không để các doanh nghiệp không thực hiện mua tạm trữ mà đảo kho cà phê.

Đối với các doanh nghiệp thực hiện việc mua cà phê tạm trữ phải thực hiện theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh.

Thủ tướng cũng giao Bộ Tài chính bố trí kinh phí, đồng thời phối hợp với Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện hỗ trợ lãi suất theo quy định. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo ngân hàng thương mại cân đối đủ vốn cho các doanh nghiệp vay thu mua cà phê, kể cả cà phê tạm trữ; thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn nợ, giãn nợ đối với các khoản vay của các hộ trồng cà phê đến hạn trả nhưng có khó khăn chưa trả được, đồng thời cho vay tiếp để các hộ trồng cà phê có vốn sản xuất vụ mới.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Tài chính, Vicofa xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6/2010 cơ chế, chính sách nhằm tăng khả năng dự trữ cà phê khi giá thế giới xuống thấp; kiểm soát giá xuất khẩu cà phê, nhất là đối với giá các hợp đồng, giao hàng tương lai và kỳ hạn; kiểm soát, ngăn ngừa hiện tượng ép giá thu mua, hạ giá khi xuất khẩu làm thiệt hại thu nhập của người trồng cà phê và lợi ích chung; hỗ trợ trực tiếp cho người trồng cà phê khi có rủi ro về thị trường, giá cả.

Hỗ trợ phát triển bền vững cây cà phê



Một trong những biện pháp để hỗ trợ phát triển bền vững cây cà phê Việt Nam là cần kiểm soát ngăn ngừa hiện tượng ép giá thu mua, hạ giá khi xuất khẩu gây thiệt hại cho người trồng cà phê, đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho người trồng cà phê ký gửi khi có rủi ro về thị trường giá cả.


Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển bền vững cây cà phê

Đây là nhiệm vụ được Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh Tây Nguyên, Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam thực hiện.

Cụ thể, các cơ quan nêu trên có nhiệm vụ xây dựng cơ chế, chính sách tiêu thụ, chế biến, xuất khẩu cà phê gắn với sản xuất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa sản xuất và tiêu thụ, chế biến, xuất khẩu theo hướng: nâng cao năng lực Hiệp hội Cà phê Ca Cao Việt Nam, tăng khả năng dự trữ cà phê khi xuống giá; kiểm soát giá xuất khẩu, nhất là đối với giá các hợp đồng giao hàng trong tương lai và trong kỳ hạn; kiểm soát ngăn ngừa hiện tượng ép giá thu mua, hạ giá khi xuất khẩu gây thiệt hại cho người trồng cà phê; hỗ trợ trực tiếp cho người trồng cà phê ký gửi khi có rủi ro về thị trường giá cả.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu, việc hỗ trợ tài chính để trồng thay thế vườn cà phê già cỗi phải được thực hiện theo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo tại công văn số 4450/VPCP-KTN ngày 1/7/2009. Cụ thể, tại công văn này, Phó Thủ tướng đã yêu cầu việc vay vốn đầu tư cho trồng tái canh phải thực hiện theo các quy định hiện hành về tín dụng đầu tư của nhà nước và vay vốn từ chương trình kích cầu của Chính phủ. Tổng công ty Cà phê Việt Nam làm việc cụ thể với Ngân hàng phát triển Việt Nam và các Ngân hàng thương mại để được hướng dẫn cụ thể.

Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với UBND các tỉnh và Bộ, ngành có liên quan xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ quy hoạch phát triển ngành Cà phê Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, quý I/2010, một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực giảm so với cùng kỳ cả về lượng và giá trị như: Gạo đạt 677 triệu USD, giảm 30,7% về lượng và giảm 16,8% về giá trị; cà phê đạt 461 triệu USD, giảm 25,3% về lượng và giảm 31% về giá trị.

3 tháng đầu năm Việt Nam xuất khẩu gần 330.000 tấn cà phê



Bộ NN&PTNT cho biết, trong 3 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã xuất khẩu được gần 330.000 tấn cà phê với kim ngạch khoảng 466 triệu USD. Sản lượng xuất khẩu giảm tới 24,04% và giảm 28,28% về giá trị kim ngạch so với cùng kỳ năm 2009.


Sản lượng xuất khẩu giảm tới 24,04% và giảm 28,28% về giá trị kim ngạch so với cùng kỳ năm 2009.

Cũng theo bộ NN&PTNT, giá cà phê tronh những tháng đầu năm đã giảm đáng kể, bình quân từ đầu năm đến nay, giá cà phê đã giảm 7,99% so với cùng kỳ năm 2009. Được biết, hiện giá cà phê được các đại lý thu mua tại các tỉnh Đak Lak, Đak Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng dao động từ mức 24.300 đồng – 24.500 đồng/kg.

Để góp phần ổn định giá cà phê trong nước và tạo vùng nguyên liệu cà phê ổn định, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trong canh tác, có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới, vừa qua Ban Quản lý Dự án cạnh tranh nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức lễ ra mắt Liên minh sản xuất cà phê bền vững Cư Êbur – Simexco Đắk Lắk. Đây là Liên minh sản xuất bền vững đầu tiên giữa nông dân và doanh nghiệp được thành lập.

Liên minh được hình thành giữa 4 tổ hợp tác của nông dân sản xuất cà phê tại xã Cư Êbur (gồm 182 hộ nông dân của 2 buôn Dhă Prông và Ea Bông, 100% là đồng bào Ê đê) và Công ty TNHH 1 Thành viên Xuất nhập khẩu 2 – 9 (Simexco Đắk Lắk) với tổng diện tích canh tác của Liên minh đạt trên 273 ha cà phê.

Liên minh sản xuất cà phê bền vững Cư Êbur – Simexco Đắk Lắk có tổng vốn đầu tư hơn 9 tỷ đồng, gồm 5,4 tỷ đồng là vốn tự có của nông dân và doanh nghiệp và 3,6 tỷ đồng do Dự án cạnh tranh nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk tài trợ.